Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội quận Sơn Trà - Đà Nẵng - Tin tức - DAT XANH GROUP - Nhà phát triển dự án
Hotline: 0906 417 357

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội quận Sơn Trà - Đà Nẵng

Ngày đăng: 29.02.2016 / 2562 lượt xem

Sơn Trà trở thành một trong những quận có vai trò là trung tâm dịch vụ của Thành phố Đà Nẵng, phát triển mạnh về dịch vụ du lịch có chất lượng cao; Quận có cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về vận tải và trung chuyển hàng hoá của thành phố, trong nước và quốc tế; là địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh của thành phố, của khu vực miền Trung và cả nước.

Sơn Trà trở thành một trong những quận có vai trò là trung tâm dịch vụ của Thành phố Đà Nẵng, phát triển mạnh về dịch vụ du lịch có chất lượng cao; Quận có cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về vận tải và trung chuyển hàng hoá của thành phố, trong nước và quốc tế; là địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh của thành phố, của khu vực miền Trung và cả nước.

Về kinh tế:

- Tốc độ tăng GDP thời kỳ 2011 - 2020 khoảng 12,30%/năm, thời kỳ 2011 - 2015 khoảng 12,10%/năm, thời kỳ 2016 - 2020 khoảng 12,51%. Tổng GDP của quận (giá so sánh 1994) đạt 2.315 tỷ đồng vào năm 2015 và đạt 4.174 tỷ đồng vào năm 2020.

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng tăng nhanh tỷ trọng dịch vụ. Cơ cấu kinh tế năm 2015 là: công nghiệp - xây dựng 46,1%; dịch vụ 48,2%, nông - lâm - ngư nghiệp 5,7%; Đến năm 2020 là: công nghiệp - xây dựng 42,2%; dịch vụ 54,0%, nông - lâm - ngư nghiệp 3,8%.

- Tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước thời kỳ thời kỳ 2011 - 2015 khoảng 20% GDP, thời kỳ 2016 - 2020 khoảng 21% GDP.

- Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân tăng 15 - 16%/năm giai đoạn 2011 - 2020. Phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu đạt 150 triệu USD và đến năm 2020 đạt khoảng 300 triệu USD.

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thời kỳ 2011 - 2020 khoảng 35 - 45% GDP.

- GDP bình quân đầu người (giá hiện hành) đạt 2.235 USD vào năm 2015 và đạt 3.543USD vào năm 2020.

Về xã hội:

 - Tỷ lệ tăng dân số thời kỳ 2011 - 2020 khoảng 5,27%. Giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên. Giải quyết việc làm bình quân hàng năm trên 5.000 lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống 4% vào năm 2020.

 - Đẩy mạnh các chương trình quốc gia về văn hóa, y tế, nâng cao chất lượng giáo dục, hoàn thành phổ cập bậc trung học. Xã hội hóa giáo dục, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất trường lớp, đa dạng hóa các loại hình đào tạo. Nâng cao chất lượng nguồn lao động, đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2020 đạt khoảng 80%. Đến năm 2020, có 70% lao động sau khi đào tạo có việc làm, nâng cao mức sống dân cư, không còn hộ nghèo.

Về bảo vệ môi trường

 Phòng ngừa có hiệu quả ô nhiễm môi trường, giữ gìn môi trường biển và ven biển để phát triển du lịch. Cải thiện chất lượng môi trường, bảo đảm nguồn nước hợp vệ sinh và đến năm 2020 đạt 100% dân số được sử dụng nước sạch, thu gom và xử lý 100% rác thải sinh hoạt, quản lý và xử lý 100% chất thải công nghiệp nguy hại, chất thải y tế. Bảo tồn và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường.
 
Ngành Công nghiệp - xây dựng

 Ngành Công nghiệp

 - Tốc độ tăng trưởng GDP công nghiệp - xây dựng giai đoạn 2011 - 2015 đạt 11,40%; giai đoạn 2016 - 2020 đạt 10,54%;

 - Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong cơ cấu GDP năm 2015 chiếm 46,1% (Trong đó công nghiệp chiếm 40%; xây dựng chiếm 6,1%); năm 2020 chiếm 42,2% (trong đó công nghiệp là 32% và xây dựng chiếm 10,2%);

 - Phát triển công nghiệp theo phương châm huy động tối đa mọi nguồn lực của các địa phương, thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của thành phố và của bên ngoài, coi trọng và nâng cao hiệu quả của hợp tác quốc tế, hợp tác liên vùng và liên ngành.

 - Có sự phối hợp, hỗ trợ, phân công chặt chẽ giữa các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất của công nghiệp trung ương, công nghiệp địa phương và công nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn. Kết hợp đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ với đầu tư mở rộng sản xuất các ngành hàng mới có lợi thế và có nhu cầu trên thị trường.

 - Phát triển các khu công nghiệp tập trung gắn với nguồn nguyên liệu để giảm chi phí sản xuất. Chú trọng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.

 - Chú trọng phát triển các sản phẩm chủ lực của quận như: các ngành chế biến thực phẩm đồ uống (chú trọng chú trọng ngành chế biến thủy sản xuất khẩu), đóng và sửa chữa tàu thuyền, sản xuất trang phục, hóa chất và các sản phẩm từ hóa chất, sản xuất máy móc thiết bị, điện tử, sản xuất thép.

 - Đa dạng hoá về quy mô và loại hình sản xuất công nghiệp. Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, tiểu thủ công nghiệp.

 Phát triển công nghiệp là một hướng quan trọng, góp phần đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

 Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm thiểu các đầu mối tiếp xúc, tạo mọi điều kiện thuận lợi để thu hút các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư từ tỉnh, thành ngoài; khuyến khích các dự án đang hoạt động tiếp tục đầu tư, mở rộng sản xuất.
 
Ngành Xây dựng

Phấn đấu thời kỳ năm 2011 - 2015 tốc độ tăng trưởng GDP của ngành xây dựng của quận tăng 5,7%/năm; thời kỳ 2016 - 2020 tăng bình quân 4,9%/năm.

Đẩy mạnh việc đầu tư tăng cường năng lực của các cơ sở, doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây dựng theo hướng hiện đại hóa từ khâu thiết kế đến thi công cả về nguồn nhân lực, trang thiết bị nhằm đảm đương xây dựng được các công trình, dự án lớn của quận, của thành phố.

Đào tạo lực lượng lao động ngành xây dựng của quận đủ mạnh để có thể cơ bản giải quyết được nhu cầu xây dựng của quận, của thành phố và tiến tới tham gia các hoạt động xây dựng ngoài thành phố và hợp tác quốc tế.

 2.2. Ngành dịch vụ

Tốc độ tăng trưởng GDP của các ngành dịch vụ giai đoạn 2011 - 2015 tăng 13,91%/năm; giai đoạn 2016 - 2020 tăng 15,10%/năm. Tỷ trọng Dịch vụ trong cơ cấu GDP năm 2015 chiếm 48,2%; năm 2020 chiếm 54%.

Phấn đầu đến năm 2015 hoàn thành cơ bản hạ tầng phục vụ cho việc đầu tư phát triển các ngành dịch vụ và tiếp tục đến năm 2020 chú trọng đổi mới, hiện đại hóa công nghệ cho phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả của các hoạt động dịch vụ.

Phối hợp với các trường dạy nghề để đào tạo lao động nâng cao tay nghề nhất là đào tạo lại đội ngũ hiện.
 
Thương mại:

Phấn đấu Quận Sơn Trà trở thành trung tâm thương mại, dịch vụ lớn của thành phố Đà Nẵng, trong đó kinh tế dịch vụ thương mại giữ vai trò then chốt. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ đến năm 2020 phải đạt trên 20 nghìn tỷ đồng. Năm 2020 quận phải đạt trên 4.000 tỷ đồng kim ngạch xuất khẩu. Thu nhập GDP bình quân đầu người năm 2020 đạt khoảng 3500 USD/năm; phát triển thị trường theo hướng xuất khẩu, có các trung tâm thương mại lớn. 
Khẩn trương tiến hành nâng cấp và hiện đại hoá cơ sở hạ tầng, theo kịp tốc độ đô thị hoá nhanh, nhằm tạo cơ sở vật chất, môi trường kinh doanh thuận lợi, thu hút các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài.

Phát triển nhanh hệ thống siêu thị vừa và nhỏ thuộc mọi thành phần kinh tế, quy hoạch và nâng cấp hệ thống chợ, xây dựng chợ đầu mối cùng hệ thống kho ngoại quan... đưa quận trở thành một đầu mối dịch vụ thương mại, cảng biển của Thành phố Đà Nẵng và của khu vực miền Trung.

Các hệ thống cơ sở hạ tầng phụ trợ hoạt động thương mại sẽ được nâng cấp, hiện đại hoá, nhất là hệ thống bưu điện, viễn thông, tài chính, ngân hàng, vận tải, bảo hiểm, y tế, du lịch... Sử dụng có hiệu quả công cụ tài chính, tiền tệ, hình thành các xa lộ thông tin và ứng dụng thương mại điện tử...

Từng bước đưa hàng hoá dịch vụ của quận tham gia vào hệ thống phân phối, tiêu thụ của các công ty đa quốc gia. Đề xuất quy hoạch hệ thống đường phố chuyên doanh thương mại. Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường trong và ngoài nước.

Phương hướng phát triển cụ thể:

Xây dựng trung tâm thương mại Sơn Trà đáp ứng tốt yêu cầu giao lưu hàng hoá và tiêu dùng của nhân dân quận và khách vãng lai. Dự kiến sẽ xây dựng tại phường An Hải Bắc. Xây dựng khu phức hợp ở phía Đông cầu Sông Hàn tại phường An Hải Bắc (diện tích 9 ha).

- Khu thương mại - dịch vụ Thọ Quang:

Địa điểm tại Vũng Thùng - Thọ Quang; đầu tư xây dựng đồng bộ, hoàn chỉnh từ Âu thuyền trú bão, các cơ sở cung ứng xăng dầu, ngư lưới cụ, các nhà máy chế biến, các trung tâm đào tạo, chợ đầu mối thuỷ sản, các cơ sở đóng mới và sữa chữa các loại tàu thuyền. Đây sẽ là trung tâm thương mại - dịch vụ thuỷ sản lớn của cả thành phố và khu vực.

- Cụm thương mại - dịch vụ Cảng Tiên Sa:

Gắn liền với Cảng Tiên Sa, hoạt động chính của cụm này là kinh doanh thương mại kết hợp với các hoạt động vui chơi giải trí phục vụ cho các du khách ‘bắt buộc”, đó là thuỷ thủ các tàu vận tải, tài xế xe tải trên các tuyến đường Liên Á, đồng thời làm các dịch vụ cung ứng cho tàu biển và xe tải. Phát triển Trung tâm giao nhận kho vận ngoại thương. Nâng cấp kho ngoại quan cảng Tiên Sa.

- Cụm dịch vụ - du lịch tại bán đảo Sơn Trà:

Chủ yếu kinh doanh ăn uống và các loại dịch vụ đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho du lịch nghỉ mát, tắm biển, cắm trại.

- Cụm thương mại - dịch vụ bãi tắm Mỹ Khê:

Làm chức năng dịch vụ cho hoạt động nghỉ ngơi tại bãi tắm Mỹ Khê, với các cửa hàng ăn uống và thủ công mỹ nghệ để phục vụ và thu hút du khách đến với bãi tắm.
 
Qui hoạch mạng lưới chợ và siêu thị:

Từ nay đến năm 2020 trên địa bàn quận sẽ tiến hành xây dựng một số chợ lớn đáp ứng nhu cầu mua sắm ngày càng tăng của dân cư như:

- Chợ đầu mối thuỷ sản Thọ Quang: chuyên mua bán các mặt hàng thủy sản khu vực duyên hải miền Trung.

- Chợ Mai: địa điểm tại phường Thọ Quang, chợ phường Nại Hiên Đông, Chợ phường Phước Mỹ, nâng cấp, chợ phường An Hải Đông.

 - Siêu thị đường cầu Sông Hàn ra biển tại phường An Hải Bắc.

Qui hoạch ngành nghề kinh doanh có điều kiện (kinh doanh xăng dầu).

Du Lịch

- Phát triển du lịch biển là hướng chiến lược song song với việc đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch.

- Lấy du lịch nội địa để phát triển du lịch quốc tế. Phát triển du lịch trong mối quan hệ liên vùng, kết hợp Sơn Trà - Đà Nẵng với các khu du lịch miền Trung: Hội An - Mỹ Sơn, Bà Nà, Bạch Mã, Tây Nguyên và Thừa Thiên Huế; đồng thời chú trọng quan hệ du lịch quốc tế và các quốc gia trên tuyến Liên Á.

- Phát triển du lịch nên tập trung vào các hoạt động có chất lượng cao, ít gây ảnh hưởng đến môi trường. Du lịch phải được đặt trong bối cảnh về sự giàu có của tài nguyên biển. Phát triển du lịch trên địa bàn quận với các loại hình và sản phẩm du lịch độc đáo từ biển, phát triển bền vững du lịch và có chính sách hữu hiệu quản lý các tàu thuyền du lịch.

- Phát triển khu đô thị du lịch Sơn Trà thành khu du lịch lớn với các dịch vụ thể thao trên biển, bảo vệ môi trường và phát triển hệ thống hạ tầng đồng bộ.

- Du lịch biển: Đây là loại hình có khả năng thu hút rộng rãi cả khách nội địa lẫn khách quốc tế. Trước mắt sẽ xây dựng khu du lịch thể thao (phường Phước Mỹ), bãi tắm Đông bán đảo Sơn Trà, bãi tắm Mân Thái - Phước Mỹ

- Du lịch sinh thái: Xây dựng khu bảo tồn biển Sơn Trà thành khu lịch sinh thái với hệ thống động thực vật phong phú, đa dạng, thuận lợi cho việc phát triển dạng hình du lịch sinh thái.

- Du lịch tìm hiểu văn hoá - lịch sử: Di tích sót lại là những ụ súng đại bác và nghĩa địa Y - Pha - Nho ở sườn Tây - Nam bán đảo Sơn Trà.

- Du lịch công vụ: thuận tiện cho việc mở các hội nghị cấp khu vực, cấp quốc gia và cả quốc tế. Sơn Trà rất thích hợp để xây dựng các Cung hội nghị.

- Du lịch thể thao: Với những bãi tắm đẹp, có những rạn đá san hô, gần các ngư trường chính, có các loài cá phục vụ nhu cầu săn bắn thể thao, sẽ tạo điều kiện phát triển dạng hình du lịch thể thao như bóng chuyền bãi biển, lướt ván, bóng đá bãi biển, lặn sâu, câu cá, đua thuyền buồm,...

 Phát triển các sản phẩm du lịch:

 Quận Sơn Trà có điều kiện để phát triển các sản phẩm du lịch như:

 - Du thuyền quanh Sơn Trà và vùng phụ cận: Đi từ Sông Hàn đến Sơn Trà, từ Nam Thọ đến Cù Lao Chàm bằng đường biển.

 - Câu cá thể thao trên biển, lặn sâu với bình khí và lặn nông với vòi hơi quan sát biển các rạn san hô dưới đáy.

 - Phát triển các tuyến du thuyền ban đêm.

 - Xây dựng trung tâm thuỷ cung tại bãi biển Nam Thọ.

 - Du lịch văn hoá miền biển: Lễ hội Cầu Ngư, đua thuyền truyền thống, lắc thúng, lễ hội thuyền hoa,... cũng sẽ là trung tâm thu hút du khách.
 
 + Khu du lịch Sơn Trà: xúc tiến việc hoàn chỉnh xây dựng các cụm du lịch cho các bãi tắm như: Bãi Bụt, Bãi Nam, Bãi Trẹm, Bãi Bắc, Bãi Tiên Sa, bãi Đá Đen, Suối Đá. Phát triển du lịch quanh bán đảo Sơn Trà ở bình độ dưới 200m.

 + Cụm Mỹ Khê: Hình thành cụm nghĩ dưỡng, thể thao, cung đại hội, khu du lịch nằm trên tuyến đường cầu sông Hàn ra biển; trục đường Sơn Trà - Điện Ngọc.

 - Khu mua sắm quận: xây dựng trung tâm bán hàng, nhất là hàng lưu niệm thủ công mỹ nghệ ở dọc các tuyến đường ven biển, đường Trần Hưng Đạo.

 - Khu cảnh quan, khách sạn dọc sông Hàn: từ nhà máy X50 Hải Quân đến cầu Tuyên Sơn.

 - Khu du lịch phụ cận: Ngoài các khu du lịch trên địa bàn quận, việc kết hợp mở tuyến du lịch sang địa phương khác sẽ tạo nên sự hấp dẫn mới đối với du khách như: tuyến Sơn Trà - Non Nước - Hội An - Mỹ Sơn, tuyến Sơn Trà - Bà Nà - Hải Vân - Bạch Mã và có thể xa hơn.

 - Phát triển mạng lưới khách sạn theo các khu du lịch thuộc bán đảo Sơn Trà và mạng lưới biệt thự ven biển tuyến đường Sơn Trà - Điện Ngọc.
 
Ngành nông lâm thủy sản

- Thủy sản:

Tăng GDP bình quân hàng năm ngành thuỷ sản giai đoạn 2011 - 2015 là 4,88%/năm và và giai đoạn 2016 - 2020 là 3,79%. Xây dựng quận thành trung tâm khai thác thuỷ sản.

 - Phát triển đội ngũ tàu khai thác hải sản xa bờ, phát triển nhanh số lượng tàu cá có công suất lớn và cải hoán, nâng cấp tàu cá công suất nhỏ để vươn khơi, hình thành các đội tàu cùng nghề để hỗ trợ nhau khai thác trên biển.

 -Ưu tiên phát triển tàu trên 90 CV đánh bắt xa bờ: đẩy nhanh tốc độ phát triển nghề khơi, tàu khai thác vùng khơi (loại trên 90 CV), phấn đấu đến năm 2020 số tàu xa bờ chiếm trên 30% tổng số lượng tàu thuyền của quận.

 - Xúc tiến nhanh việc hình thành trung tâm huấn luyện nghề cá tại khu công nghiệp dịch vụ thuỷ sản Thọ Quang, nhằm đào tạo đội ngũ thuyền trưởng, máy trưởng, tập huấn kiến thức luật biển, Luật giao thông biển và về thông tin liên lạc, ngư trường, an toàn trên biển.

 - Khai thác có hiệu quả Âu thuyền Thọ Quang để hình thành cụm dịch vụ nghề cá, đóng mới, sửa chữa tàu thuyền, đào tạo huấn luyện ngư dân.

 - Đẩy mạnh chế biến hải sản xuất khẩu bằng cách tập trung đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ cao, phát triển thêm các nhà máy chế biến.

 Từ nay đến năm 2020, khu dân cư nghề cá sẽ được bố trí tập trung ổn định tại các phường ven sông Hàn như: An Hải Tây, An Hải Bắc, Nại Hiên Đông và làng cá Thọ Quang.

 - Lâm nghiệp:

 Trồng các cây xanh ven các đường phố như: Sao đen, Phượng vĩ, Lim xẹt, Long não, Bằng lăng,... theo hướng mỗi đường phố là một loại cây đặc trưng, thực hiện phương châm: “xong đường cây mọc”.

 Kết hợp quản lý chặt chẽ tránh nạn chặt phá rừng lấy củi, bảo vệ, xây dựng và phát triển vốn rừng hiện có (3.871 ha)

 Xây dựng rừng Sơn Trà trở thành vườn rừng quốc gia để phục vụ nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch, nghỉ dưỡng.
 
Định hướng phát triển nguồn nhân lực và lĩnh vực văn hóa-xã hội

 Phát triển nguồn nhân lực

 Dân số:

 Tăng cường vân động nhân dân thực hiện tốt công tác Kế hoạch hoá gia đình. Nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân. Đầu tư thích đáng cho công tác dân số cũng như các điều kiện để bảo đảm chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân. Quản lý tốt để điều tiết chặt chẽ vấn đề tăng dân số cơ học, bảo đảm sự phân bố dân cư tương đối hợp lý trên tất cả các phường của quận.

 Lao động và việc làm:

 - Từ nay đến năm 2020 sẽ nâng dần tỷ trọng lao động có chuyên môn, nghiệp vụ làm việc trong các ngành dịch vụ, công nghiệp và giảm tỷ trọng lao động làm việc trong ngành Thuỷ sản - nông - lâm.

 - Hình thành các trung tâm xúc tiến việc làm kết hợp với tuyển chọn, đào tạo nghề cho người lao động đáp ứng được nhu cầu tuyền dụng lao động của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

 - Mở rộng đào tạo nghề nghiệp và chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động nhằm nâng tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật đáp ứng nhu cầu lao động của các ngành.
 
Phát triển Giáo dục - Đào tạo

 Đến năm 2020 hệ thống giáo dục quận sẽ có 57 cơ sở giáo dục khoảng 40.000 học sinh. Trong đó có 18 trường mầm non, 15 trường tiểu học, 9 trường THCS, 4 trường THPT, 2 trường cao đẳng, 2 Trung tâm Giáo dục thường xuyên, hướng nghiệp, Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, 7 Trung tâm Học tập cộng đồng.

 Mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư. Đến năm 2020, tỷ lệ trẻ em trong các nhà trẻ ngoài công lập khoảng 80% và tỷ lệ học sinh mẫu giáo ngoài công lập khoảng 50%.

 Khuyến khích mở các loại hình trường tiểu học ngoài công lập nhằm phát huy nguồn lực xã hội. Đến năm 2020 tỷ lệ học sinh ngoài công lập khoảng > 5%.

 Hoàn thiện và phát triển hệ thống trường trung học cơ sở đến năm 2020 có 9 trường THCS, tăng 2 trường THCS Lê Độ 2, Lý Tự Trọng 2.

 Củng cố mạng lưới trường trung học phổ thông, khuyến khích mở các loại hình trường PTTH ngoài công lập.

 Phát triển quy mô các trường cao đẳng, các cơ sở đào tạo trung cấp chuyên nghiệp phù hợp với nhu cầu lao động của phát triển kinh tế của địa phương. Đến năm 2020, tỷ lệ trung học chuyên nghiệp ngoài công lập chiếm 70%.

 100% cơ sở giáo dục công lập đạt chuẩn quốc gia.
 
Phát triển Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân

 - Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đổi mới và nâng cấp trang thiết bị cho khối bệnh viện c��a Trung tâm y tế quận.

 - Củng cố Đội y tế dự phòng và Đội Kế hoạch hóa gia đình - Bảo vệ bà mẹ trẻ em (Đội Chăm sóc sức khỏe sinh sản) để làm tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia, phối hợp với các ngành có liên quan kiểm tra giám sát công tác vệ sinh lao động, vệ sinh học đường và đặc biệt là vệ sinh an toàn thực phẩm,...

 - Tiếp tục củng cố và hoàn thiện công tác chuẩn y tế quốc gia về y tế phường đã đạt chuẩn, nhằm chuẩn hoá các hoạt động của y tế phường; làm tốt công tác khám chữa bệnh thông thường, sơ cấp cứu và chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phòng chống dịch bệnh. Phát triển mạng lưới cộng tác viên, bác sĩ gia đình và quản lý sức khoẻ theo hộ gia đình, thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh và các chương trình mục tiêu y tế quốc gia, quản lý tốt các bệnh xã hội, đặc biệt là nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng,...

 Khuyến khích mở các mô hình phòng khám đa khoa hay Trung tâm chẩn đoán, xây dựng các phòng khám Bác sỹ gia đình, bệnhh viện tư nhân để phục vụ việc khám chữa bệnh cho nhân dân.

 Phát triển Văn hóa, thông tin, thể dục thể thao

 - Duy trì, khôi phục và phát triển văn hoá làng nghề biển trên địa bàn quận Sơn Trà, góp phần xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

 - Xây dựng Trung tâm văn hoá thể thao gồm các hạng mục: khu biểu diễn tổng hợp, phòng họp, thư viện, khu vui chơi giải trí, phòng làm việc, công viên, tượng đài, các câu lạc bộ,...

 - Chú trọng xã hội hoá hoạt động thể dục thể thao, gọi vốn từ các nhà đầu tư, tạo điều kiện cho các hoạt động tư nhân hoá các công trình thể dục thể thao.
 
 Chính sách xã hội

 Tiếp tục triển khai kế hoạch thực hiện chương trình thành phố “5 không”, kết hợp với việc thực hiện chương trình thành phố “3 có”, nhằm góp phần giải quyết tốt một số vấn đề xã hội như: chống tái đói, giảm nghèo và giải quyết việc làm cho người lao động nhằm cải thiện nâng cao mức sống cho nhân dân, đặc biệt là đối tượng chính sách, người có công với cách mạng, góp phần vào việc thực hiện tốt chính sách an dân của thành phố.
 
Phát triển cơ sở hạ tầng

 Quy hoạch cải tạo kiến trúc và không gian đô thị để cơ bản trở thành một đô thị hiện đại có các phân khu chức năng rõ ràng, có không gian kiến trúc và cảnh quan phù hợp với môi trường sinh thái.

 Tiếp tục chỉnh trang và mở rộng đô thị về phía Nam, ưu tiên phát triển chiều cao để giảm mật độ xây dựng và tăng hệ số sử dụng đất.

 Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ. Từng bước mở rộng, xây dựng và nâng cấp các tuyến đường nội thị kết hợp với chỉnh trang đô thị, ngầm hoá các kỹ thuật hạ tầng, xây dựng các bãi đậu xe ở khu vực trung tâm, hệ thống giao thông ngầm và cầu vượt. Chú trọng phát triển giao thông công cộng.

 Tăng cường mật độ cây xanh đạt 8-10m2/người. Phát triển thêm các khu công viên, bố trí hợp lý không gian xanh tại các khu dân cư mới cũng như khu đô thị trung tâm.
 
Định hướng phát triển giao thông vận tải

 a) Đường bộ

 Đến năm 2020, hệ thống giao thông đường bộ của quận sẽ hoàn chỉnh. Các tuyến:Yết Kiêu - Ngô Quyền, tuyến từ đường Hồ Xuân Hương (quận Ngũ Hành Sơn) đến đường Trần Quang Khải (quận Sơn Trà), tuyến nối đường cầu Thuận Phước nối với đường Trần Quang Khải.

 * Giao thông nội đô:

 Tới năm 2020, mạng lưới giao thông đô thị quận Sơn Trà sẽ được xây dựng tương đối hoàn chỉnh với các tuyến chính sau:

 - Trục đường từ Nguyễn Phan Vinh đến Sân bay Nước Mặn, dài 8km.

 - Đường nội bộ phường An Hải Đông (Trước trường PTTH Hoàng Hoa Thám) nối từ đường Nguyễn Văn Thoại đến đường Nguyễn Công Trứ.

 - Tiếp tục xây dựng các tuyến đường ngang chính nối từ các cầu đến biển.

 - Cải tạo, nâng cấp các tuyến đường sau:

 + Đường Nguyễn Công Trứ, tuyến Khu dân cư An Trung , tuyến đường Lê Hữu Trác, tuyến quanh bán đảo Sơn Trà

 - Phấn đấu hoàn thành việc bê tông hoá các kiệt, hẻm trong các khu dân cư kèm theo hệ thống hạ tầng khác như điện, cấp thoát nước

 b) Đường thủy:

 Cảng Tiên Sa: cải tạo nâng cấp và mở rộng Cảng Tiên Sa đảm bảo điều kiện cho tàu chở hàng rời có trọng tải 35.000 DWT, tàu container có trọng tải đến 20.000 DWT

 Cảng Thọ Quang: Xây dựng cảng tổng hợp Thọ Quang tại khu vực vịnh Mân Quang, tiếp nhận tàu tới 50.000 DWT.

 Nghiên cứu phương án di dời Cảng Nguyễn Văn Trỗi của Quân khu V sang khu vực vịnh Mân Quang.

 Di chuyển Cảng xăng dầu Mỹ Khê và Nại Hiên Đông vào khu vực vịnh Đà Nẵng.
 
Thoát nước

 Xây mới cống bao dài 11250m. D=500-600mm.
 Xây dựng mới Trạm xử lý nước thải Thọ Quang công suất 23.000m3/ngđ, diện tích 4 ha.
 Tại các điểm dân cư tập trung, sử dụng hệ thống cống chung rồi thải nước vào sông, biển sau khi đã được xử lý bằng bể tự hoại.
 
Cấp nước

 Cải tạo và nâng cấp nhà máy nước Sơn Trà - Chi nhánh cấp nước Khu vực 3 (công suất 6.000 m3/ngày đêm) lên thành 10.500 m3/ngày đêm.
 Đến năm 2015 số hộ dùng nước sạch chiếm 90% và 95% đến năm 2020. Trong đó các khu chung cư, khu dân cư đã quy hoạch có số hộ dùng nước sạch đạt 100%.
 Đảm bảo lượng nước tiêu thụ bình quân một người dân đô thị là 170 lít/ngày vào năm 2015 và 200 lít/ngày vào năm 2020
 
Cấp điện

 Đảm bảo điện năng tiêu thị bình quân đầu người một năm 3000 Kwh vào năm 2015 và 3500 Kwh vào năm 2020.
 Đầu tư xây dựng mới 2 trạm biến áp 150 KVA, 1 trạm biến áp 75 KVA, 3 trạm biến áp 50 KVA, đảm bảo cung cấp điện cho khu du lịch bán đảo Sơn Trà. Đầu tư xây dựng trạm 110KV Khu công nghiệp Đà Nẵng, lắp thêm 1 máy 110/22KV-25MVA vừa cấp điện cho khu công nghiệp vừa hỗ trợ nguồn cho quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn.
 
Bưu chính - Viễn thông

 Nâng cao chất lượng phục vụ bưu chính, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ bưu chính, phát triển các hình thức chuyển phát nhanh. Phát triển mạng lưới bưu cục đều khắp trên địa bàn, rút ngắn khoảng cách các bưu cục.

 Hiện đại hóa các trung tâm viễn thông, nâng cấp các tổng đài viễn thông, đảm bảo dung lượng đủ cho mật độ điện thoại là 50 máy điện thoại/100 dân đến năm 2015 và 60 máy điện thoại/100 dân đến năm 2020.

 Mở rộng và phát triển các dịch vụ internet công cộng để nâng cao trình độ dân trí và truyền thông đến mọi tổ chức, mọi cá nhân. Phấn đấu đến năm chiếm khoảng 37% so với thuê bao máy điện thoại.
 
 Các giải pháp chủ yếu:

 Giải pháp về đầu tư:

 Để đảm bảo được mức tăng trưởng bình quân của nên kinh tế quận như quy hoạch đã đề ra, nhu cầu vốn đầu tư cho thời kỳ 2011-2015 là 10.802 tỷ đồng, thời kỳ 2016 - 2020 là 25.584 tỷ đồng.

 Tập trung khai thác và huy động nguồn vốn trong nước (kể cả vốn của các doanh nghiệp TW, vốn tín dụng,...) và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nguồn vốn viện trợ không chính thức (ODA) và các nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO).

 Riêng với nguồn vốn trong nước, cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân mạnh dạn đầu tư vốn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ công bằng cho các thành phần kinh tế. Bên cạnh nguồn vốn vay tín dụng ưu đãi theo các chương trình, các doanh nghiệp có thể huy động vốn thông qua các ngân hàng, vốn tín dụng nhân dân, quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ đầu tư phát triển của thành phố...
 
Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực:

 Tăng cường việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và đào tạo nghề nghiệp cho người lao động với kiến thức và trình độ phù hợp để có thể tiếp thu và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất nhằm giảm nhẹ cường độ lao động, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả.

 Trong giai đoạn 2006 - 2015 đào tạo nghề cho người lao động phù hợp với từng ngành nghề đã định hướng quy hoạch như dệt may, cơ khí sửa chữa tàu thuyền, chế biến thực phẩm, sản xuất máy móc thiết bị…Trong giai đoạn 2016 - 2020 tiếp tục đầu tư đào tạo, dạy nghề chuyên môn, nghiệp vụ cho lao động phục vụ ở những ngành dịch vụ chất lượng cao, tiếp cận với công nghệ hiện đại. Khuyến khích nhiều hình thức dạy nghề với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế.
 
Giải pháp về cơ chế chính sách:

 Đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính. Áp dụng ISO 9001. 2000 vào công tác quản lý nhà nước. Xoá bỏ những thủ tục, giấy tờ mang tính hình thức, rườm rà, tránh gây phiền hà, ách tắc và không vi phạm dân chủ.

 Phát huy tính năng động, tự chủ sáng tạo trong sản xuất kinh doanh của các cơ sở. Tạo môi trường kinh doanh lành mạnh và hành lang pháp lý chặt chẽ cho mọi hoạt động của các doanh nghiệp, bảo đảm bình đẳng giữa các cơ sở sản xuất kinh doanh.
 
Giải pháp về phát triển kết cấu hạ tầng và chỉnh trang đô thị, tạo môi trường hấp dẫn cho phát triển du lịch, dịch vụ:

 Tập trung đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thuận loại cho việc thu hút các nguồn vốn đầu tư, nhất là đầu tư cho phát triển các ngành dịch vụ. Ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở cho phát triển ngành du lịch.

 Tiếp tục đầu tư nâng cấp hoàn thiện các tuyến đường chính. Đầu tư nâng cấp, mở rộng để hoàn chỉnh mạng giao thông nội thị ở các khu vực còn lại. Trong đó quan trọng hàng đầu là xây dựng hệ thống xử lý nước thải bảo đảm tiêu chuẩn về môi trường.

Giải pháp về môi trường:

 Phát triển công nghiệp phải đảm bảo bền vững và tránh gây ô nhiễm môi trường để phát triển dịch vụ du lịch. Đối với du lịch biển, việc giữ gìn môi trường biển không chỉ ở các bãi tắm mà cả ngoài khơi, nghiêm cấm các hoạt động đánh bắt cá bằng chất nổ và xung điện vì sẽ phá huỷ môi trường biển nghiêm trọng.

 Vùng rừng Sơn Trà có chức năng như lá phổi và có vai trò quyết định đối với môi trường Đà Nẵng, vì vậy cần phải có biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt đồng thời có các chương trình thích hợp để làm giàu rừng.

Sơn Trà trở thành một trong những quận có vai trò là trung tâm dịch vụ của Thành phố Đà Nẵng, phát triển mạnh về dịch vụ du lịch có chất lượng cao; Quận có cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về vận tải và trung chuyển hàng hoá của thành phố, trong nước và quốc tế; là địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh của thành phố, của khu vực miền Trung và cả nước.

Về kinh tế:

- Tốc độ tăng GDP thời kỳ 2011 - 2020 khoảng 12,30%/năm, thời kỳ 2011 - 2015 khoảng 12,10%/năm, thời kỳ 2016 - 2020 khoảng 12,51%. Tổng GDP của quận (giá so sánh 1994) đạt 2.315 tỷ đồng vào năm 2015 và đạt 4.174 tỷ đồng vào năm 2020.

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng tăng nhanh tỷ trọng dịch vụ. Cơ cấu kinh tế năm 2015 là: công nghiệp - xây dựng 46,1%; dịch vụ 48,2%, nông - lâm - ngư nghiệp 5,7%; Đến năm 2020 là: công nghiệp - xây dựng 42,2%; dịch vụ 54,0%, nông - lâm - ngư nghiệp 3,8%.

- Tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước thời kỳ thời kỳ 2011 - 2015 khoảng 20% GDP, thời kỳ 2016 - 2020 khoảng 21% GDP.

- Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân tăng 15 - 16%/năm giai đoạn 2011 - 2020. Phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu đạt 150 triệu USD và đến năm 2020 đạt khoảng 300 triệu USD.

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thời kỳ 2011 - 2020 khoảng 35 - 45% GDP.

- GDP bình quân đầu người (giá hiện hành) đạt 2.235 USD vào năm 2015 và đạt 3.543USD vào năm 2020.

Về xã hội:

 - Tỷ lệ tăng dân số thời kỳ 2011 - 2020 khoảng 5,27%. Giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên. Giải quyết việc làm bình quân hàng năm trên 5.000 lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống 4% vào năm 2020.

 - Đẩy mạnh các chương trình quốc gia về văn hóa, y tế, nâng cao chất lượng giáo dục, hoàn thành phổ cập bậc trung học. Xã hội hóa giáo dục, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất trường lớp, đa dạng hóa các loại hình đào tạo. Nâng cao chất lượng nguồn lao động, đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2020 đạt khoảng 80%. Đến năm 2020, có 70% lao động sau khi đào tạo có việc làm, nâng cao mức sống dân cư, không còn hộ nghèo.

Về bảo vệ môi trường

 Phòng ngừa có hiệu quả ô nhiễm môi trường, giữ gìn môi trường biển và ven biển để phát triển du lịch. Cải thiện chất lượng môi trường, bảo đảm nguồn nước hợp vệ sinh và đến năm 2020 đạt 100% dân số được sử dụng nước sạch, thu gom và xử lý 100% rác thải sinh hoạt, quản lý và xử lý 100% chất thải công nghiệp nguy hại, chất thải y tế. Bảo tồn và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường.
 
 Ngành Công nghiệp - xây dựng

 Ngành Công nghiệp

 - Tốc độ tăng trưởng GDP công nghiệp - xây dựng giai đoạn 2011 - 2015 đạt 11,40%; giai đoạn 2016 - 2020 đạt 10,54%;

 - Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong cơ cấu GDP năm 2015 chiếm 46,1% (Trong đó công nghiệp chiếm 40%; xây dựng chiếm 6,1%); năm 2020 chiếm 42,2% (trong đó công nghiệp là 32% và xây dựng chiếm 10,2%);

 - Phát triển công nghiệp theo phương châm huy động tối đa mọi nguồn lực của các địa phương, thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của thành phố và của bên ngoài, coi trọng và nâng cao hiệu quả của hợp tác quốc tế, hợp tác liên vùng và liên ngành.

 - Có sự phối hợp, hỗ trợ, phân công chặt chẽ giữa các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất của công nghiệp trung ương, công nghiệp địa phương và công nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn. Kết hợp đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ với đầu tư mở rộng sản xuất các ngành hàng mới có lợi thế và có nhu cầu trên thị trường.

 - Phát triển các khu công nghiệp tập trung gắn với nguồn nguyên liệu để giảm chi phí sản xuất. Chú trọng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.

 - Chú trọng phát triển các sản phẩm chủ lực của quận như: các ngành chế biến thực phẩm đồ uống (chú trọng chú trọng ngành chế biến thủy sản xuất khẩu), đóng và sửa chữa tàu thuyền, sản xuất trang phục, hóa chất và các sản phẩm từ hóa chất, sản xuất máy móc thiết bị, điện tử, sản xuất thép.

 - Đa dạng hoá về quy mô và loại hình sản xuất công nghiệp. Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, tiểu thủ công nghiệp.

 Phát triển công nghiệp là một hướng quan trọng, góp phần đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

 Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm thiểu các đầu mối tiếp xúc, tạo mọi điều kiện thuận lợi để thu hút các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư từ tỉnh, thành ngoài; khuyến khích các dự án đang hoạt động tiếp tục đầu tư, mở rộng sản xuất.
 
Ngành Xây dựng

Phấn đấu thời kỳ năm 2011 - 2015 tốc độ tăng trưởng GDP của ngành xây dựng của quận tăng 5,7%/năm; thời kỳ 2016 - 2020 tăng bình quân 4,9%/năm.

Đẩy mạnh việc đầu tư tăng cường năng lực của các cơ sở, doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây dựng theo hướng hiện đại hóa từ khâu thiết kế đến thi công cả về nguồn nhân lực, trang thiết bị nhằm đảm đương xây dựng được các công trình, dự án lớn của quận, của thành phố.

Đào tạo lực lượng lao động ngành xây dựng của quận đủ mạnh để có thể cơ bản giải quyết được nhu cầu xây dựng của quận, của thành phố và tiến tới tham gia các hoạt động xây dựng ngoài thành phố và hợp tác quốc tế.

 Ngành dịch vụ

Tốc độ tăng trưởng GDP của các ngành dịch vụ giai đoạn 2011 - 2015 tăng 13,91%/năm; giai đoạn 2016 - 2020 tăng 15,10%/năm. Tỷ trọng Dịch vụ trong cơ cấu GDP năm 2015 chiếm 48,2%; năm 2020 chiếm 54%.

Phấn đầu đến năm 2015 hoàn thành cơ bản hạ tầng phục vụ cho việc đầu tư phát triển các ngành dịch vụ và tiếp tục đến năm 2020 chú trọng đổi mới, hiện đại hóa công nghệ cho phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả của các hoạt động dịch vụ.

Phối hợp với các trường dạy nghề để đào tạo lao động nâng cao tay nghề nhất là đào tạo lại đội ngũ hiện.
 
Thương mại:

Phấn đấu Quận Sơn Trà trở thành trung tâm thương mại, dịch vụ lớn của thành phố Đà Nẵng, trong đó kinh tế dịch vụ thương mại giữ vai trò then chốt. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ đến năm 2020 phải đạt trên 20 nghìn tỷ đồng. Năm 2020 quận phải đạt trên 4.000 tỷ đồng kim ngạch xuất khẩu. Thu nhập GDP bình quân đầu người năm 2020 đạt khoảng 3500 USD/năm; phát triển thị trường theo hướng xuất khẩu, có các trung tâm thương mại lớn. 
Khẩn trương tiến hành nâng cấp và hiện đại hoá cơ sở hạ tầng, theo kịp tốc độ đô thị hoá nhanh, nhằm tạo cơ sở vật chất, môi trường kinh doanh thuận lợi, thu hút các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài.

Phát triển nhanh hệ thống siêu thị vừa và nhỏ thuộc mọi thành phần kinh tế, quy hoạch và nâng cấp hệ thống chợ, xây dựng chợ đầu mối cùng hệ thống kho ngoại quan... đưa quận trở thành một đầu mối dịch vụ thương mại, cảng biển của Thành phố Đà Nẵng và của khu vực miền Trung.

Các hệ thống cơ sở hạ tầng phụ trợ hoạt động thương mại sẽ được nâng cấp, hiện đại hoá, nhất là hệ thống bưu điện, viễn thông, tài chính, ngân hàng, vận tải, bảo hiểm, y tế, du lịch... Sử dụng có hiệu quả công cụ tài chính, tiền tệ, hình thành các xa lộ thông tin và ứng dụng thương mại điện tử...

Từng bước đưa hàng hoá dịch vụ của quận tham gia vào hệ thống phân phối, tiêu thụ của các công ty đa quốc gia. Đề xuất quy hoạch hệ thống đường phố chuyên doanh thương mại. Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường trong và ngoài nước.

Phương hướng phát triển cụ thể:

Xây dựng trung tâm thương mại Sơn Trà đáp ứng tốt yêu cầu giao lưu hàng hoá và tiêu dùng của nhân dân quận và khách vãng lai. Dự kiến sẽ xây dựng tại phường An Hải Bắc. Xây dựng khu phức hợp ở phía Đông cầu Sông Hàn tại phường An Hải Bắc (diện tích 9 ha).

- Khu thương mại - dịch vụ Thọ Quang:

Địa điểm tại Vũng Thùng - Thọ Quang; đầu tư xây dựng đồng bộ, hoàn chỉnh từ Âu thuyền trú bão, các cơ sở cung ứng xăng dầu, ngư lưới cụ, các nhà máy chế biến, các trung tâm đào tạo, chợ đầu mối thuỷ sản, các cơ sở đóng mới và sữa chữa các loại tàu thuyền. Đây sẽ là trung tâm thương mại - dịch vụ thuỷ sản lớn của cả thành phố và khu vực.

- Cụm thương mại - dịch vụ Cảng Tiên Sa:

Gắn liền với Cảng Tiên Sa, hoạt động chính của cụm này là kinh doanh thương mại kết hợp với các hoạt động vui chơi giải trí phục vụ cho các du khách ‘bắt buộc”, đó là thuỷ thủ các tàu vận tải, tài xế xe tải trên các tuyến đường Liên Á, đồng thời làm các dịch vụ cung ứng cho tàu biển và xe tải. Phát triển Trung tâm giao nhận kho vận ngoại thương. Nâng cấp kho ngoại quan cảng Tiên Sa.

- Cụm dịch vụ - du lịch tại bán đảo Sơn Trà:

Chủ yếu kinh doanh ăn uống và các loại dịch vụ đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho du lịch nghỉ mát, tắm biển, cắm trại.

- Cụm thương mại - dịch vụ bãi tắm Mỹ Khê:

Làm chức năng dịch vụ cho hoạt động nghỉ ngơi tại bãi tắm Mỹ Khê, với các cửa hàng ăn uống và thủ công mỹ nghệ để phục vụ và thu hút du khách đến với bãi tắm.
 
Qui hoạch mạng lưới chợ và siêu thị:

Từ nay đến năm 2020 trên địa bàn quận sẽ tiến hành xây dựng một số chợ lớn đáp ứng nhu cầu mua sắm ngày càng tăng của dân cư như:

- Chợ đầu mối thuỷ sản Thọ Quang: chuyên mua bán các mặt hàng thủy sản khu vực duyên hải miền Trung.

- Chợ Mai: địa điểm tại phường Thọ Quang, chợ phường Nại Hiên Đông, Chợ phường Phước Mỹ, nâng cấp, chợ phường An Hải Đông.

 - Siêu thị đường cầu Sông Hàn ra biển tại phường An Hải Bắc.

Qui hoạch ngành nghề kinh doanh có điều kiện (kinh doanh xăng dầu).

 

Du Lịch

- Phát triển du lịch biển là hướng chiến lược song song với việc đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch.

- Lấy du lịch nội địa để phát triển du lịch quốc tế. Phát triển du lịch trong mối quan hệ liên vùng, kết hợp Sơn Trà - Đà Nẵng với các khu du lịch miền Trung: Hội An - Mỹ Sơn, Bà Nà, Bạch Mã, Tây Nguyên và Thừa Thiên Huế; đồng thời chú trọng quan hệ du lịch quốc tế và các quốc gia trên tuyến Liên Á.

- Phát triển du lịch nên tập trung vào các hoạt động có chất lượng cao, ít gây ảnh hưởng đến môi trường. Du lịch phải được đặt trong bối cảnh về sự giàu có của tài nguyên biển. Phát triển du lịch trên địa bàn quận với các loại hình và sản phẩm du lịch độc đáo từ biển, phát triển bền vững du lịch và có chính sách hữu hiệu quản lý các tàu thuyền du lịch.

- Phát triển